Chào mừng kỷ niệm 130 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20/8/1888 - 20/8/2018)
Ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Châu Thành
Thực hiện Nghị quyết 09 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh An Giang, giai đoạn 2012 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Công tác ứng dụng, chuyển giao các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Châu Thành luôn được Huyện đặc biệt quan tâm, chú trọng, qua đó đã đạt được nhiều kết quả nhất định.

 

Huyện đã tạo nên bước đột phá về năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp, tăng thu nhập và lợi nhuận cho bà con nông dân. Đồng thời, góp phần hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội chung của huyện, trong đó góp phần hoàn thành các chỉ tiêu, tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

Để triển khai có hiệu quả kế hoạch sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khai thác tiềm năng lợi thế của huyện, nhằm gia tăng giá trị sản xuất nông nghiệp, phát triển bền vững… Trong thời gian qua, công tác chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện đã được các đơn vị triển khai khá tích cực. Các mô hình sản xuất thí điểm đã từng bước được nhân rộng, tạo điều kiện cho người sản xuất nông nghiệp tiếp cận những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong lĩnh vực nông nghiệp, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho nông dân.

Trong lĩnh vực lúa – gạo phải kể đến việc sản xuất lúa chất lượng cao theo mô hình cánh đồng lớn. Sản xuất lúa chất lượng cao, lúa thơm đặc sản kết hợp thực hiện mô hình cánh đồng lớn trên địa bàn huyện được nhiều công ty, doanh nghiệp tham gia sản xuất theo chuỗi giá trị liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân. Tính đến nay toàn huyện có diện tích trên 36 nghìn hecta tham gia cánh đồng lớn. Tập trung thực hiện tại các xã Vĩnh Bình, Vĩnh Nhuận, Vĩnh Hanh, Vĩnh An, Tân Phú, Cần Đăng, Vĩnh Lợi, An Hòa, Bình Hòa và Hòa Bình Thạnh. Các giải pháp ứng dụng khoa học được áp dụng đồng bộ như chương trình 1 phải 5 giảm, ứng dụng quy trình tưới nước tiết kiệm, chương trình 3 giảm 3 tăng… Ngoài ra các chương trình quản lý dịch hại, giảm thất thoát sau thu hoạch cũng được thực hiện nhằm giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận cho bà con nông dân.

Cùng với sản xuất lúa thương phẩm theo chuỗi giá trị liên kết, việc sản xuất lúa giống cũng được triển khai khá tích cực thông qua việc xã hội hóa nhằm tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các tổ, đội sản xuất và nông dân trong việc cung cấp giống lúa phục vụ sản xuất, góp phần giảm giá thành, tăng lợi nhuận cho người nông dân. Nếu như năm 2012 toàn huyện có 3 cơ sở sản xuất giống, đến nay huyện đã có 17 cơ sở và 22 tổ đội sản xuất kinh doanh lúa giống mang nhãn hiệu hàng hóa. Hàng năm có trên 28 nghìn hecta lúa giống đáp ứng cho trên 90% nhu cầu sử dụng giống cho nông dân. Chủ yếu các giống lúa chất lượng cao, lúa thơm, giống xuất khẩu… Huyện đã hỗ trợ các tổ nhân giống đầu tư các máy móc, thiết bị chuyên dùng như 01 máy phân loại hạt, 02 mấy sấy lúa giống, 08 máy ẩm độ điện tử và 20 máy làm sách giống nội địa.

Đối với lĩnh vực thủy sản, huyện đã phối hợp với trung tâm giống thủy sản An Giang ứng dụng mô hình nuôi Tôm càng xanh toàn đực tại xã An Hòa, lũy kế đến nay được áp dụng sản xuất với diện tích 6,7 hecta, sản lượng ước đạt 9,3 tấn. Mô hình sản xuất lươn không bùn cũng được áp dụng tại các xã Cần Đăng, Vĩnh Hanh, Vĩnh Nhuận, Vĩnh Bình và An Hòa có 8 hộ tham gia nuôi. Huyện cũng đang triển khai nuôi lươn theo tiêu chuẩn VietGap và phối hợp với trường Đại học An Giang triển khai mô hình sản xuất giống lươn đồng ứng dụng công nghệ cao tại xã Vĩnh Bình. Đối với cá tra thịt nuôi theo tiêu chuẩn VietGap, huyện có tổng diện tích nuôi là 107 hecta và tăng theo từng năm.

Trong lĩnh vực chăn nuôi, công tác chuyển giao, ứng dụng kỹ thuật gieo tinh nhân tạo trên gia súc từng bước được thực hiện khá tốt nhằm duy trì, cải tạo đàn giống đạt chất lượng, đáp ứng nhu cầu thị trường. Tính đến nay đã thực hiện gieo tinh nhân tạo cho 813 con heo nái sinh sản và 94 con bò cái nền.

Đối với rau, màu, toàn huyện hiện có tổng diên tích 70 hecta trồng rau màu an toàn. Trong đó có 6 nhà lưới trồng rau, màu với điện tích 5.400 m2. Huyện cũng đã phối hợp triển khai mô hình trồng dưa leo gốc ghép bầu, mướp, bình bát dây… nhằm hạn chế bệnh héo rũ, kết quả có trên 93% đạt kết quả, mang lại năng suất cao hơn và không bị héo rủ.

Lĩnh vực nấm ăn, nấm được liệu cũng được chú trọng, Huyện đã phối hợp chuyển giao kỹ thuật trồng và bảo dưỡng nấm bào ngư, nấm linh chi tại thị trấn An Châu, xã An Hòa và Bình Hòa. Mô hình trồng nấm rơm trong nhà tại xã Cần Đăng, Vĩnh Thành và An Hòa. Mô hình tận dụng phụ phẩm bịch meo nấm bào ngư, nấm linh chi trồng nấm rơm tại xã An Hòa và thị trấn An Châu… Nông dân thường xuyên được hướng dẫn kỹ thuật, quy trình trồng nấm và được bao tiêu sản phẩm. Tính đến 8/2017, toàn huyện có 51 nhà trồng nấm ăn, nấm được liệu.

Bên cạnh việc chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, huyện đặc biệt quan tâm mời gọi doanh nghiệp, tìm thị trường đầu ra ổn định cho sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Huyện đã kết nối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại dịch vụ Phan Nam và siêu thị Tứ Sơn để tiêu thụ rau, màu, nấm bào ngư và các thực phẩm nông nghiệp khác. UBND huyện cũng đã tạo điều kiện để công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại dịch vụ Phan Nam đầu tư xây dựng điểm bán rau màu tại thị trấn An Châu, thực hiện hợp đồng tiêu thụ với tổ sản xuất rau màu xã Bình Thạnh, bình quân 100 – 120 kg/ngày; 02 tổ hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nấm ăn, nấm dược liệu được thành lập tại xã An Hòa và thị trấn An Châu.

Thực hiện ứng dụng chuyển giao các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Châu Thành theo Nghị quyết 09 của Tỉnh ủy, 5 năm qua huyện Châu Thành đã gặt hái được nhiều thành công lớn trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng suất, tăng chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên thực hiện mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng cao đòi hỏi vốn đầu tư lớn nên nông dân khó tiếp cận. Thị trường đầu ra cho sản phẩm còn chưa ổn định, giá cả giữa sản phẩm rau sạch và rau sản xuất đại trà tương đương nhau nên chưa thu hút được doanh nghiệp và nông dân đầu tư sản xuất. Quy mô áp dụng còn nhỏ lẻ, manh mún. Liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp vẫn chưa xác lập gắn bó lâu dài. Ngân sách nhà nước còn hạn chế chưa đáp ứng kịp thời cho việc triển khai các mô hình để làm thí điểm nhân rộng…

Thời gian tới, Huyện đề nghị tỉnh cần có chính sách hỗ trợ lãi suất vay từ các ngân hàng để người sản xuất tiếp cận được nguồn vốn vay; Hỗ trợ huyện mời gọi các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao để đảm bảo đầu ra cho nông dân; Cần xúc tiến các hoạt động thương mại và xây dựng mối liên kết giữa người sản xuất với các siêu thị và hệ thống bán lẻ tiêu thụ sản phẩm ứng dụng công nghệ cao của nông dân…

Thanh Bạch