Kỷ niệm 129 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20/8/1888 - 20/8/2017)! ! Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm ! !
Những đóng góp của báo chí trong công tác tuyên truyền sau Cách Mạng Tháng Tám 1945 – 1954
Chúng ta đều biết: thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả của nhiều nguyên nhân trong đó có vai trò không nhỏ của báo chí cách mạng Việt Nam. Báo chí cách mạng Việt Nam đã thực hiện rất tốt các chức năng của mình: “Chức năng tuyên truyền, Chứcnăng hướng dẫn dư luận, Chức năng tập hợp lực lượng… trong đó đặc biệt là chức năng tập hợp lực lượng để hoàn thành hết sức tốt đẹp sứ mệnh của mình”. Trải qua hơn 90 năm hoạt động, báo chí, xuất bản Việt Nam ra đời, phát triển và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước, xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Responsive image
Bác Hồ vẫn thường đọc báo. Ảnh:TL

Báo chí ra đời do nhu cầu thông tin – giao tiếp, giải trí và nhận thức của con người... Tuy nhiên, trước khi người phương Tây đến, ở nước ta chưa có báo chí với đúng ý nghĩa của nó “theo truyền thuyết ở Việt Nam nghề in có từ rất sớm…làng Bưởi, làng Láng có nghề làm giấy nổi tiếng từ rất lâu. Cũng có thuyết cho rằng, đất Luy Lâu xưa, một trung tâm Phật giáo từ thế kỷ I đến thế kỷ III đã khắc in Kinh Phật”. Song chủ nghĩa thực dân đã lợi dụng việc phát triển báo chí để chúng thực hiện một cuộc “Công nghiệp hóa cưỡng bức” và  áp đặt “Văn minh phương Tây cưỡng chế” dân tộc ta, cũng chính vì lẽ đó mà báo chí trong thời gian này mang nặng đặc tính thuộc địa “tuyên truyền chính sách kiểm soát của thực dân Pháp ở đất Nam Kỳ”. Để thực hiện được “chính sách tuyên truyền” của thực dân thì   sau 3 tờ báo được thực dân Pháp xuất bản bằng tiếng Pháp, tiếng Hán trên đất Nam Kỳ  lúc bấy giờ thì Gia Định Báo được xem là tờ báo thứ tư và là tờ báo đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ được thực dân Pháp xuất bản để: “chính phủ Pháp cung cấp những thông tin, những chính sách của họ được truyền đạt đến mọi thành phần, mọi tầng lớp nhân dân hòng thực hiện thành công và hiệu quả công cuộc khai thác thuộc địa”. Vì Pháp cho rằng: “chữ Pháp và chữ Hán thì chỉ có một số ít người biết, còn chữ quốc ngữ thì dễ đọc hơn và số người đọc sẽ đông hơn”. Tờ  Gia Định báo của Việt Nam ra mắt vào ngày 15/4/1865 tại Sài Gòn: “Trong công văn ngày 09/05/1865 gửi Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp, Thống đốc chỉ huy trưởng Nam Kỳ lúc bấy giờ là G.Roze nói rõ mục đích khi cho xuất bản tờ báo này: “Số đầu tiên của tờ Gia Định Báo được in bằng chữ An Nam, theo chữ cái Latinh, phát hành vào ngày 15 tháng 4 vừa qua”. Chúng ta có thể thấy rằng chính phủ Pháp đã sử dụng và xem báo chí là một công cụ không thể thiếu trong việc thực hiện những ý đồ chính trị của họ. Tuy nhiên ý đồ chính trị của chính phủ Pháp được che đậy dưới hình thức nâng cao dân trí, phổ biến những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới để canh tân xứ sở, đem lại tiến bộ cho người dân bản xứ.

Responsive image

Báo chí bán công khai trên đường phố Sài Gòn những năm 1950 (Ảnh: TL)

Nhưng từ  sau khi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ra đời, với tư cách là người sáng lập và lãnh tụ, Nguyễn Ái Quốc đã đề ra cho Hội một kế hoạch hoạt động cụ thể. L.Mácty gọi đó là “Kế hoạch Nguyễn Ái Quốc”. Thực chất của kế hoạch này là vừa sử dụng những phương tiện có thể truyền bá sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin trong quần chúng, vừa tiến hành xây dựng tổ chức cách mạng trên khắp đất nước. Đồng thời trong thời gian này Nguyễn Ái Quốc cho ra đời tờ báo “Thanh niên” được in tại Quảng Châu, Trung Quốc rồi phát hành ở nước ngoài và đưa vào trong nước. Theo GS Trần Văn Giàu  trong "Lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam", tờ báo Thanh niên là "tờ báo bí mật đầu tiên của người cách mạng Việt Nam bằng chữ quốc ngữ, viết bằng giấy sáp, in bằng bàn in tay. Tờ báo Thanh Niên tiêu biểu cho tổ chức cách mạng đến nỗi người ta thường gọi là: "Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội là Đảng Thanh niên" và ngày 21/6/1925 được chọn làm ngày Báo chí Việt Nam. Tiếp sau đó là hàng loạt các tờ báo khác lần lượt ra đời góp phần vào việc tuyên truyền,  giáo dục và tổ chức những phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc. Do báo chí nước ta sinh ra trong môi trường thuộc địa, nên  tính tự do ngôn luận của báo chí lúc bấy giờ có nhiều hạn chế so với các nước phương Tây “lịch trình phát triển quyền tự do báo chí là lịch trình tranh đấu kình chống lại tất cả những chế độ đàn áp, độc tài…và đồng thời cũng là lịch trình đấu tranh bảo vệ sự độc lập và quyền uy của báo chí, đặt báo chí vượt hẳn ra ngoài vòng kiểm soát, bóp nghẹt dư luận và kiềm tỏa độc đoán của các chính quyền độc tài”. Trong suốt thời kỳ đô hộ, báo chí luôn là công cụ đắc lực phục vụ cho công tác tuyên truyền các chính sách của giới thực dân “báo chí trong tay giới thực dân và tài phiệt đi đầu trong việc công kích, bôi nhọ cách mạng và cổ súy cho chủ nghĩa “Pháp – Việt đề huề”, cho sứ mạng “cao cả” của nước Đại Pháp ở Đông Dương...” và chúng chỉ nới tay dung dưỡng bọn bồi bút tay sai tự do phục vụ nhà cầm quyền.

Vai trò của báo chí trong những năm 1945 - 1954:

Sau ngày Cách Mạng tháng Tám, chính quyền thuộc về nhân dân, đội ngũ trí thức yêu nước vô cùng phấn khởi đem hết trí lực và tài năng phục vụ cho việc xây dựng một nước Việt Nam mới, một chế độ xã hội mới độc lập tự do. Nhưng với sự ủng hộ của đế quốc Anh và bè lũ Quốc dân đảng Trung Quốc, thực dân Pháp lại xâm lược nước ta một lần nữa. Để bảo vệ Tổ quốc, Đảng đã phát động và lãnh đạo cuộc kháng chiến vĩ đại của cả dân tộc. Lúc này người trí thức nghe theo tiếng gọi của Đảng đã tích cực tham gia kháng chiến, xiết chặt hàng ngũ xung quanh Đảng và Nhà nước. Họ đã tạo nên một nền văn hóa kháng chiến lành mạnh và đầy sức sống. Ở vùng tự do, trường phổ thông và trường đại học vẫn tiếp tục mở cửa. Sách báo tiến bộ và cách mạng vẫn ra đều đặn. Những đoàn văn công của nghệ sĩ chuyên nghiệp và của cả quần chúng đông đảo được phát triển ở khắp nơi…tất cả các hoạt động văn hóa, khoa học và nghệ thuật trên của người trí thức Việt Nam đều thắm nhuần đường lối cách mạng của Đảng và được tiến hành dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thấu hiểu được nỗi đau của một nước từng là nô lệ. Cho nên người trí thức Việt Nam trong thời gian này tập trung vào hai nhiệm vụ chiến lược chính đó là “công tác tuyên truyền và cổ động” hay nói cách khác “kháng chiến, kiến quốc” mà trọng tâm chính là chống nạn đói, chống nạn mù chữ, chống giặc ngoại xâm do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra. Ngày 03/9/1945 tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ“đây được xem là giai đoạn củng cố và bảo vệ chính quyền trong những năm đầu 1945 – 1946”, báo chí đã thật sự trở thành “công cụ đắc lực” để tuyên truyền cho các phong trào Bình dân học vụ, Tuần lễ vàng, Bầu cử... đặc biệt các cơ sở xuất bản trong thời kỳ trước cách mạng được duy trì, cải tổ, phát triển và báo chí  được xuất bản công khai. Sự xuất hiện của hàng trăm tờ báo ở khắp các địa phương trong cả nước và tại các đô thị lớn như: Hà Nội, Sài Gòn... trong thời gian này đã phản ánh một bầu không khí sôi động trong lĩnh vực báo chí, xuất bản. Cùng với đó là sự ra đời của tạp chí Tiên phong, cơ quan ngôn luận của Hội Văn hoá cứu quốc, đã có tác dụng định hướng cho giới văn nghệ sĩ, tuyên truyền những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, phản ánh sinh động đời sống văn hoá dân tộc trong năm đầu tiên giành được độc lập.

Ngày 23/9/1945, giặc Pháp gây chiến ở Nam Bộ và sau đó lan ra các tỉnh miền Trung. Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam”, nhân dân miền Bắc đã dấy lên phong trào “Nam Tiến” sôi nổi ủng hộ kháng chiến miền Nam được tổ chức rầm rộ khắp nơi. Giữa Sài Gòn, hàng chục tờ báo hàng ngày chuyển tải tin tức kháng chiến, chẳng những phát hành ở nội đô mà còn phát hành nhiều nơi trong nước. Đây là phong trào báo chí thống nhất, một mặt trận dư luận chống âm mưu chia cắt Nam bộ ra khỏi Việt Nam, đòi chính phủ Pháp phải thương lượng với Đảng ta. Có thể nói báo chí thống nhất đã áp đảo dư luận phản động, làm chủ trận địa thông tin tuyên truyền. Các chiến sĩ văn hóa, thông tin kháng chiến hoạt động công khai, đóng vai trò đầu tàu trong đấu tranh dư luận ở Nam bộ.

Ngày 19/12/1946  cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Đảng ta thực hiện chủ trương “tiêu thổ kháng chiến”, các cơ quan, nhà máy, cơ sở  xuất bản, toà soạn được di dời ra vùng căn cứ.

Năm 1947, Đảng chủ trương xây dựng lại các nhà xuất bản sách báo. Ở Việt Bắc có thêm Báo “Quân du kích, Vệ quốc đoàn, Lao động, Văn nghệ”. Ở Nam Bộ lúc bấy giờ có Nhà xuất bản Nhân dân miền Nam. Các phòng chính trị ở mỗi Quân khu đều có xuất bản các loại sách phục vụ trực tiếp cho bộ đội. Chúng ta có thể thấy được rằng công tác xuất bản, in, phát hành sách, báo trong thời gian này vẫn đảm bảo cung cấp tài liệu cho mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước, chỉ có riêng “Tạp chí Tiên Phong” là ngừng xuất bản.

Trong Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ II năm 1948, thay mặt Đảng ta, Tổng Bí thư Trường Chinh, đã trình bày báo cáo “Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam” - một văn kiện hoàn chỉnh đầu tiên của Đảng ta về trí thức và văn hoá văn nghệ Việt Nam trong kháng chiến 9 năm 1945-1954” xác định rõ ràng hơn đường lối, nhiệm vụ và phương châm công tác văn hóa kháng chiến. Hội Văn nghệ Việt Nam được thành lập, tiếp đó Tạp chí Văn nghệ, Nhà xuất bản Văn nghệ ra đời. Tại Thanh Hóa, đồng chí Đặng Thai Mai (ông còn được biết đến dưới tên gọi Đặng Thái Mai và những bút danh Thanh Tuyền, Thanh Bình) đã thành lập Hội văn hóa cứu quốc và Chi hội văn nghệ liên khu IV. Một số văn nghệ sĩ đã ra tờ báo “Sáng tạo” và tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng cán bộ văn hóa, văn nghệ. Hội Văn nghệ  đã xuất bản Tạp chí Văn nghệ để tiếp tục tuyên truyền và phản ánh đời sống văn hoá nghệ  thuật của nhân dân trong kháng chiến.

Ở vùng tự do Liên khu V, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Phạm Văn Đồng đã mở nhiều lớp văn hóa và lập Chi hội văn nghệ liên khu V. Các nhà văn, nhạc sĩ, họa sĩ, đã ra mặt trận và đã viết nhiều tiểu thuyết, bản nhạc, thơ, đồng thời sưu tầm nâng cao nhiều vốn văn hóa của các dân tộc.                     

Responsive image

Phóng viên chiến trường (Ảnh:TL)

Ở Nam bộ, năm 1948 Ủy ban kháng chiến Nam bộ giao cho tiến sĩ Hoàng Xuân Nhị thành lập “Viện văn hóa kháng chiến Nam bộ”. Cuộc thi văn nghệ đầu tiên của Nam bộ kháng chiến được tổ chức, gọi là cuộc thi văn hóa kháng chiến Nam bộ “tiền thân của giải Cửu Long sau này”. Công tác thông tin, cổ động, văn hóa, văn nghệ đặc biệt sôi nổi, phát triển khá rầm rộ ở vùng giải phóng Tây Nam bộ thu hút  đông đảo quần chúng nhân dân tham gia. Báo Nhân dân miền Nam của Trung ương Cục miền Nam, Tạp san Lá lúa của Hội văn nghệ, Tạp san Tiểu thuyết nhân dân của Ban Tuyên huấn Trung ương Cục in với số lượng lớn, bày bán rộng rãi ở vùng tự do. Đặc biệt, tỉnh Long Châu Hậu còn xuất bản tờ tin in bằng sáp, sau in li tô và lập đoàn thông tin lưu động trên 200 người do đồng chí Lâm Văn Thới làm Trưởng đoàn tuyên truyền vận động nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Cũng tại Nam bộ, sau Đại hội Đảng lần thứ II (2/1951), Tạp chí Nghiên cứu, báo Nhân dân miền  Nam, cơ quan lý luận, ngôn luận của Trung ương cục miền Nam ra đời. Các nhà xuất bản được thành lập và hoạt động như: Xây dựng, Phân hội Mác, Mùa thu, Ban Tuyên huấn Xứ uỷ Nam Bộ, Ban vận động Hợp tác xã miền Nam, Liên khu IV, Ban Tuyên huấn Trung ương, Ban Huấn luyện, Văn nghệ, Liên khu V…chỉ trong vòng 2 năm, từ năm 1951 đến 1954, nhà in Trần Phú đã in liên tục và phát hành báo chí cách mạng như: Tạp chí Nghiên cứu, báo Nhân  dân miền Nam, báo Kinh nghiệm tuyên truyền, Văn nghệ miền Nam, Lá lúa... Ngoài ra, ở mỗi tỉnh lại có phát hành các tờ  báo riêng phản ánh tình hình chính trị, xã hội, văn hoá tại địa phương mình: Hải Ninh kháng chiến (tỉnh Hải Ninh), Thái Nguyên kháng chiến (tỉnh Thái Nguyên), Đề Thám (tỉnh Bắc Giang), Thông tin kháng chiến (tỉnh Lạng Sơn)... Các báo địa phương, báo chí các loại xuất bản từ  năm 1946 đến 1954 được 77.212.128 số. Báo Sự thật tăng từ 8.000 lên 11.000 bản/ngày; báo Cứu Quốc tăng từ 25.000 đến 30.000 bản/ngày. Sách các loại có 8.915.972 cuốn. Sự ra đời của nhiều nhà xuất bản, phát hành và các tờ báo trong kháng chiến đã thể  hiện sự lớn mạnh của công tác tuyên truyền. Đây được xem là sự lớn mạnh vượt bậc cả về số lượng lẫn  chất lượng, quy mô của báo chí và xuất bản.

Tóm lại, báo chí  giai đoạn 1945-1954 đã làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền, cổ động và tổ chức quần chúng, góp phần đắc lực vào phong trào cách mạng, đưa cuộc đấu tranh lâu dài, bền bỉ của nhân dân Việt Nam đến thắng lợi, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.  Ngày nay, trong xu thế hội nhập và giao lưu quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ  thì công việc của báo chí Việt Nam nói chung và báo in Việt Nam nói riêng phải tiếp tục đóng vai trò là công cụ tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng, định hướng công chúng và phục vụ nhu cầu thông tin của nhân dân. Báo chí phải thật sự là thứ vũ khí sắc bén, phải là người đi tiên phong trên mặt trận tư tưởng, tỉnh táo, cảnh giác, vạch trần âm mưu thâm độc của các thế lực xấu, thù địch, củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước qua đó nhằm giáo dục lòng yêu nước và nâng cao nhận thức của quần chúng./.

Nguyễn Minh Trung